Dịch vụ thiết kế rập,nhảy size,giác sơ đồ.Dịch vụ in rập,in sơ đồ.Dạy thiết kế rập nhảy size,giác sơ đồ Gerber Accumark,Lectra,Optitex.

Thứ Ba, ngày 09 tháng 8 năm 2016

On 13:16 by Pham Tran Toan in    No comments
Để có một chiếc áo dài đẹp không phải dễ, điều quan trọng đầu tiên là chọn được chất liệu và họa tiết phù hợp. Các chất liệu để may áo dài luôn được phái đẹp ưa chuộng là lụa, vải lanh, vải organza hay taffetta...
 Lụa: luôn là chất liệu truyền thống được sử dụng nhiều nhất khi may áo dài. Trang phục may từ lụa thích hợp với thời tiết nắng nóng cũng như lạnh. Tạo cảm giac thoải mái cho người mặc, chất liệu này có tính năng thấm hút mồ hôi tốt trong mùa nóng và giữ nhiệt tốt vào mùa lạnh. Do có cấu trúc dạng lăng kính tam giác, lụa phản chiếu ánh sáng chiếu vào nó với nhiều góc độ khác nhau tạo nên vẻ óng ánh đặc trưng. Với đặc điểm mềm, nhẹ, bay áo và có nhiều hoa văn nhỏ sẽ là một sự lựa chọn thích hợp cho những bạn gái theo phong cách nhẹ nhàng, nữ tính. Lụa được sử dụng nhiều để thêu tay, đính đá, kết cườm... Nếu muốn có một chiếc áo dài hơi lạ, bạn có thể chọn loại lụa nhăn...

Vải organza(lụa ni lông) truyền thống: là loại vải mỏng, trơn mịn, được dệt từ lụa, chất liệu mang vẻ quí phái, sang trọng.

Nhung: Hợp với những người có làn da trắng hay phụ nữ đứng tuổi. Tuy nhiên, bạn cũng có thể chọn loại nhung ghép (đũi, ren, taffeta) kết hợp với đính hạt, thêu họa tiết nổi... kết hợp với may cổ thuyền, tà nhỏ, ôm sát để tạo sự trẻ trung.


Vải lanh: Cũng là một chất liệu tự nhiên, khá phổ biến trong may mặc. Đặc tính nổi bật của lanh là nhẹ, bền, hút mồ hôi tốt nên dùng để may các trang phục mặc vào mùa hè vì nó tạo cảm giác mát mẻ, thoải mái cho người mặc. Tuy nhiên, nhược điểm của nó là dễ nhăn vì độ đàn hồi không cao.

Ren: Là một trong những chất liệu được ưa chuộng nhất trong suốt năm qua.

Voan: đặc tính mềm, mỏng, mát, nhẹ, và có độ rũ cao, có thể kết hợp voan cùng các chất liệu khác, hoặc thêm lớp lót, họa tiết để tránh phản cảm.





Thứ Tư, ngày 20 tháng 7 năm 2016

On 23:06 by Pham Tran Toan   No comments
Thiết kế mẫu là tạo nên bộ rập mẫu sao cho khi may xong sản phẩm có kiểu dáng giống như mẫu chuẩn và đảm bảo thông số kích thước đúng như yêu cầu kỹ thuật của khách hàng.

Những cơ sở để thiết kế mẫu: thông thường khi thiết kế mẫu ta dựa vào tài liệu kỹ thuật là chính. Tài liệu kỹ thuật và mẫu bổ sung cho nhau, đồng thời kết hợp với kinh nghiệm chuyên môn. Như vậy việc thiết kế mẫu dựa trên những cơ sở sau:
-    Dựa vào tài liệu kỹ thuật là cơ sở pháp lý để xác định thông số kích thước, cách sử dụng nguyên phụ liệu và yêu cầu kỹ thuật.
-    Dựa vào mẫu chuẩn để xác định quy cách lắp ráp, quy trình công nghệ, cách sử dụng nguyên phụ liệu và cách sử dụng thiết bị máy móc một cách trực quan.
-    Dựa vào kinh nghiệm chuyên môn để phân tích tổng hợp các dữ liệu sẵn có để vẽ các chi tiết kết cấu nên sản phẩm.
Trường hợp mẫu và tài liệu kỹ thuật có sự mâu thuẫn thì ta dựa vào tài liệu kỹ thuật để thiết kế mẫu.
Nguyên tắc thiết kế:
-    Mẫu thiết kế phải đảm bảo đúng thông số kích thước.
-    Mẫu thiết kế các chi tiết lắp ráp phải ăn khớp với nhau.
-    Mẫu thiết kế phải phù hợp với tính chất nguyên phụ liệu (nghiên cứu tính chất nguyên phụ liệu, độ co rút, chu kỳ sọc, độ lem màu, khác màu,…) để từ đó có thể gia giảm công thức thiết kế và thuận tiện cho việc sắp xếp chi tiết trong quá trình giác sơ đồ sau này.
-    Mẫu thiết kế phải phù hợp với điều kiện sản xuất tại công ty.
Các bước thực hiện thiết kế mẫu:
-    Kiểm tra xem tài liệu kỹ thuật, mẫu hiện vật và bộ mẫu mỏng (nếu có) xem có hợp lý, có điều gì mâu thuẫn bất hợp lý. Các yêu cầu kỹ thuật so với điều kiệnsản xuất thực tế của xí nghiệp có phù hợp hay không để tiến hành sản xuất. Từ đó có cơ sở để làm việc thống nhất với khách hàng trước khi thiết kế và đưa vào sản xuất.
-    Căn cứ vào tài liệu, áp dụng nguyên tắc của việc chia cắt theo thiết kế, dùng bút chì dựng hình trên giấy mỏng, kết hợp với sự phân tích, nhận xét các điều kiện sản xuất như độ thiên canh sợi, độ co, đối họa,…tiến hành thiết kế các chi tiết lớn trước nhỏ sau.

-    Kiểm tra sự ăn khớp giữa các đường lắp ráp, chừa đường may các chi tiết sau cho đảm bảo đúng toàn bộ thông số kích thước của sản phẩm sau khi lắp ráp.
-    Xác định vị trí dấu bấm, lấy dấu trên rập.
-    Ghi các ký hiệu về canh sợi, tên mã hàng, cỡ vóc, tên chi tiết, số lượng chi tiết lên từng chi tiết.
-    Chuyển bộ mẫu cho bộ phận may mẫu để tiến hành cắt mẫu và may mẫu.
-    Trong giai đoạn này người thiết kế phải theo dõi, tham gia chỉ đạo quá trình lắp ráp để phát hiện kịp thời những sai sót và chỉnh mẫu.
-    Lập bảng thông kê toàn bộ các chi tiết của sản phẩm, số lượng chi tiết lưu lại và gửi cho bộ phận kỹ thuật. Người thiết kế ký tên chịu trách nhiệm toàn bộ về bộ mẫu.

Có nhiều phần mềm thiết kế và nhảy size được sử dụng để thiết kế rập: Gerber Accumark,Lectra,Optitex.Sử dụng phần mềm thiết kế rập nhảy size sẽ giảm bớt thời gian chuẩn bị mẫu.

Thứ Năm, ngày 14 tháng 7 năm 2016

On 00:28 by Pham Tran Toan in    No comments
Mỗi quốc gia, mỗi dân tộc đều có những bộ quốc phục riêng, khi nhìn vào quốc phục mà họ mặc trên người ta có thể đoán được họ đến từ quốc gia nào. Người Nhật thì có ‘Kymono”, người Trung Hoa thì có “sườn xám”… người Việt Nam chúng ta thì tự hào với “chiếc áodài” quê hương.


Tuy nhiên cho đến nay, vẫn chưa ai biết rõ được nguồn gốc chính xác của chiếc áo dài nguyên thủy ra đời từ lúc nào và hình dáng ra sao, vì thiếu tài liệu kiểm chứng. 
Trong cuốn kể chuyện "Chín Chúa - Mười Ba Vua Triều Nguyễn" của ông Tôn Thất Bình, (Nhà Xuất Bản Ðà-Nẵng, 1997) có bài "Những Trang Ðầu của lịch sử áo dài” tác giả có chép như sau: "Chiếc áo dài tha thướt xinh đẹp hiện nay phải qua một quá trình phát triển. Nó được hình thành từ đời chúa Nguyễn Phúc Khoát. Chúa Nguyễn muốn dân chúng trong địa phận mình cai trị mang y phục riêng, Nguyễn Phúc Khoát hiểu dụ: "Y phục bản quốc vốn có chế độ, địa phương này từ trước cũng chỉ tuân theo quốc tục, nay kính vâng thượng đức, dẹp yên cõi biên, trong ngoài như nhau, chính trị và phong tục cũng nên thống nhất. Nếu còn có người mặc quần áo kiểu người khách (Trung quốc, TTB chú) thì nên đổi theo thể chế của nước nhà. Ðổi may y phục thì theo tục nước mà thông dụng vải, lụa, duy có quan chức thì mới cho dùng xen the, là, trừu, đoạn, còn gấm vóc và các thứ hoa rồng phượng thì nhất thiết không được quen thói cũ dùng càn. Thường phục thì đàn ông, đàn bà dùng áo cổ đứng ngắn tay, cửa ống tay hoặc rộng hoặc hẹp tùy tiện. Áo thì hai bên nách trở xuống phải khâu kín liền không cho xẻ mớ. Duy đàn ông không muốn mặc áo cổ tròn và hẹp tay cho tiện làm việc thì cũng được. Lễ phục thì dùng áo cổ đứng tay dài, vải xanh chàm hoặc vải đen, hay vải trắng tùy nghi. Còn các bức viền cổ và kết lót thì đều theo như điều hiểu dụ năm trước mà chế dùng”


Như vậy có thể nói từ thế kỷ XVIII, chiếc áo dài đã được ra đời, dù ban đầu còn thô sơ, nhưng kín đáo. Nó là sản phẩm mang màu sắc dung hòa Bắc Nam.

Thứ Ba, ngày 24 tháng 2 năm 2015

  •  Thông số thiết kế rập quần dài có yếm trẻ em.


Dài quần: 50 cm
Dài yếm: 14 cm
Hạ gối: 30 cm
Vòng eo: 52 cm
Vòng mông: 52 cm
Ống quần: 16 cm

  • Cách thiết kế rập thân trước.
Vẽ hình chữ nhật. Trong đó:
AB: dài quần = số đo = 50 cm
BB': ngang đáy = bề rộng = 17.5 cm



AC: hạ đáy: ¼ vòng mông +3 (cđ) = 16cm




AT: hạ gối = số đo = 30 cm

  • Vẽ đường đáy.
AA1: 1cm.

A1A2: ngang eo = ¼ vòng eo = 13 cm

CC1: ngang mông = ¼ vòng mông + 3(cđ) + 1.5 (cửa quần) = 17.5 cm
C1C2: cửa quần = 1.5 cm

Nối A2C2 và chia thành 3 đoạn bằng nhau.

Nối C1 với đoạn 1/3 của A2C2 tai D
I là điểm giữa của C1 D.
J là điểm giữa của C2I.

Vẽ đáy qua các điểm C2JDA2.



  • Vẽ đường chính trung.
O là trung điểm của CC1. Từ O kẻ đường thẳng song song và cách đều AB. Đường này gặp đường ống tại P, tại gối tại Q.

  • Vẽ ống quần.
PB1 = PB2 = (1/2 số đo vòng ống - 2)/2 = 7 cm
QT1 = QT2 = ½ ngang mông – (1 – 1.5) = 7.75 cm

Nối B1T1 và T1C. Khoảng giữa T1C đánh cong 0.5, khoảng giữa AC vẽ đường hông quần lên A1.
Nối B2T2 và T2C khoảng giữa T2C1 đánh cong 0.5.
  • Vẽ yếm.
Từ A2 dựng đường vuông góc A2E = 14 cm = chiều dài yếm.

EE1 //AA2 = 14 cm

EF = 6.  cm

Nối AF đánh cong 2.5 cm ở giữa đoạn.


Vẽ đường cong cạnh trên của yếm như hình vẽ.


  • Cách thiết kế rập thân sau. ( Như cách thiết kế rập quần dài căn bản)
Từ thân trước sang dấu các đường hông, ngang eo, ngang mông, ngang gối, ngang ống, đường chính trung.
  • Vẽ đáy.
AB: dài quần = 50 cm  
AC: hạ đáy = hạ đáy thân trước +1 = 17 cm


CC1: ngang mông = ngang mông thân trước + 1/10 vòng mông = 22.7 cm
C1C2: 1/10 vòng mông = 5.2 cm



AA1: lấy xuống 1cm
A1A2: ngang eo = ¼ vòng eo + 3cm (luồn thun) = 16 cm


Nối A2C2 và chia thành 3 đoạn bằng nhau.



Nối C1 với đoạn 1/3 của A2C2 tại D
I là điểm giữa của C1D.
J là điểm giữa của C2I.



Vẽ đáy qua các điểm C2JDA2.

  • Vẽ đường ống.
Bên hông quần = từ ngang mông C đến bề dài quần B1
Nối CA1.



B2B3 =T2T3 = 4 cm
Nối T3C1, khoảng giữa đánh cong 1cm.


Từ A1A2 lấy ra 2cm kẻ đường thẳng // A1A2 làm nẹp lưng thun.




  • QUY CÁCH CHỪA ĐƯỜNG MAY.
Đường sườn cắt chừa 1.5cm.
Đường đáy cắt chừa 1cm,
Lai chừa 3cm, lưng thân trước chừa 1cm, lưng thân sau cắt chừa 3cm. (lưng thân sau luồn thun 2.5cm).
Các đường còn lại chừa đều 1cm.








































Thứ Ba, ngày 16 tháng 12 năm 2014

Thân sau.
Từ mép vải đo vào ¼ mông +1.5cm (chừa đường may),xếp đôi vảo, sóng vải quay về phía người cắt, cổ áo ở tay phải, lai ở tay trái.
AB: Dài áo = Sđ +2cm chồm vai.


AA1: Vào cổ sau = 1/6 cổ +1cm.
AA2: Hạ cổ = chồm vai +1cm.
AC: Ngang vai = ½ vai +0.5cm.
CC1: Hạ vai = 4cm.


C1D1: Hạ nách = ½ nách +2cm.
Vẽ vòng nách sau

DD2: Ngang ngực = ¼ ngực.
AE: Hạ eo sau = SĐ + 2cm.
EE1: Ngang eo = ¼ eo + 2cm (pince).
E2E1: = 2cm.
FF1: Ngang mông =1/4 mông.
B2B3: giảm sường = 1cm.


Vị trí pince.
NN1: = ½ sđ dang ngực.
Từ N1 kẻ đường // giữa sóng áo.

N1O = 3cm.

Bóc rập thành phẩm và chừa đường may

Thân trước:
Xếp 2 biên vải trùng nhau, mặt úp mặt, biên vải quay về phía người cắt, từ biên đo vào 3cm làm nẹp, 1.5cm khuy nút vẽ lai bên tay trái,vẽ cổ bên tay phải.
AB: Dài thân = Số đo – 2cm chồm vai.

AC: Ngang vai = 1/2 Vai -0.5cm,
CC1: Hạ vai = 4 cm.

C1D1: Hạ nách = 1/2 vòng nách – 2cm.
Vẽ vòng nách theo mẫu

AE: Hạ eo trước = sđ – 2cm.
EF: Hạ mông = sđ.



AA1: Vào cổ trước = 1/6 cổ.
AA2: Hạ cổ = 1/6 cổ +0.5cm.
DD2: Ngang ngực = 1/4 Ngực + 2cm.
EE1: Ngang eo = 1/4 Eo + 2cm(pince) +2cm cđ.
FF1: Ngang mông = ¼ mông +2cm.
FF2: Ngang lai = ngang mông = ¼ Mông + 2cm.
BB1: Sa vạt = 2cm.
Vẽ pence dọc và đường đinh áo,nẹp. 
Vẽ pence ngang
Chừa đường may